Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến Quốc gia và toàn cầu

Ngày đăng: 10/10/2021 15:00

Những thay đổi mang tính đột phá từ cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang định hình lại cách hoạt động của các tổ chức và thể chế công. Đặc biệt, những thay đổi này buộc chính phủ – ở cấp khu vực, quốc gia và địa phương – phải điều hcỉnh bằng cách tự làm mới mình và tìm ra những cách thức hợp tác mới với người dân và khu vực tư nhân. Chúng cũng ảnh hưởng đến quan hệ giữa các quốc gia và các chính phủ.

 

 

TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.O ĐẾN CHÍNH PHỦ

 

Khi đánh giá về tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với các chính phủ, điều nổi bật đầu tiên là việc sử dụng các công nghệ số để quản lý tốt hơn. Áp dụng sáng tạo và sâu rộng hơn công nghệ web có thể giúp hệ thống hành chính công hiện đại hóa cấu trúc và chức năng nhằm nâng cao tổng thể hiệu quả hoạt động, từ củng cố các quy trình quản lý điện tử đến tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và gắn bó giữa chính phủ với người dân. Chính phủ cũng phải thích ứng với thực tế là quyền lực từ nhà nước chuyển dịch sang các thực thể phi nhà nước, và từ các thể chế đã có sẵn sang những mạng lưới lỏng lẻo. Các công nghệ mới, các nhóm xã hội và những tương tác họ tạo ra cho phép hầu như bất cứ ai cũng có thể tạo ra ảnh hưởng theo cách mà chỉ mấy năm trước vẫn còn là không tưởng.

Chính phủ là một trong những đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi bản chất quyền lực ngắn ngủi và mong manh này. Như Moisés Naím từng nói, “trong thế kỷ XXI, quyền lực trở nên dễ có hơn, khó sử dụng hơn và dễ mất hơn”. Hầu như ai cũng cho rằng ngày nay quản lý khó khăn hơn trước. Ngoài một vài ngoại lệ, phần lớn giới hoạch định chính sách đều thấy thực tế thay đổi khó khăn hơn. Họ bị hạn chế bởi các trung tâm quyền lực cạnh tranh, từ xuyên quốc gia đến cấp tỉnh, địa phương và thậm chí từ các cá nhân. Các quyền lực vi mô ngày nay có thể kiềm chế những quyền lực vĩ mô như các chính phủ.

Thời đại kỹ thuật số đã làm suy yếu nhiều rào cản được sử dụng nhằm bảo vệ quyền lực của chính quyền, làm suy giảm hiệu quả hoặc hiệu lực của các chính phủ vì đối tượng bị quản lý, tức công chúng, tiếp cận thông tin tốt hơn và ngày càng đòi hỏi cao hơn. Câu chuyện WikiLeaks – một thực thể phi nhà nước nhỏ bé đối mặt với một quốc gia khổng lồ tiêu biểu cho tính bất đối xứng trong mô hình quyền lực mới và sự xói mòn lòng tin thường đi kèm với nó.

Muốn khám phá tất cả những tác động đa chiều của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với các chính phủ, cần phải có một cuốn sách dành riêng cho đề tài này, song điều then chốt ở đây là: Công nghệ sẽ ngày càng trao thêm sức mạnh cho người dân, đem lại phương thức mới để họ thể hiện quan điểm, tạo điều kiện cho họ phối hợp hành động và có thể tránh khỏi sự giám sát của chính phủ. Tôi nói “có thể”, bởi điều ngược lại cũng có thể xảy ra khi công nghệ giám sát mới lại tạo ra quyền lực vạn năng cho các cơ quan công quyền.

Những cấu trúc tồn tại song song có thể truyền bá ý thức hệ, tuyển mộ các tín đồ và phối hợp hành động phản đối – hoặc bất chấp – hệ thống chính thức của chính quyền. Chính phủ, ở dạng hiện tại, sẽ buộc phải thay đổi khi vai trò trung tâm của họ trong triển khai chính sách ngày càng suy giảm do sự gia tăng cạnh tranh, tái phân phối và phân chia quyền lực mà công nghệ mới mang lại. Càng ngày chính phủ sẽ càng được coi là các trung tâm dịch vụ công và được đánh giá theo khả năng cung cấp dịch vụ mở rộng hiệu quả nhất và được cá nhân hóa cao nhất.

Xét cho cùng, khả năng thích ứng của chính phủ sẽ quyết định sự sống còn của họ. Nếu các chính phủ đón nhận một thế giới thay đổi đột phá chóng mặt, sẵn sàng cải tổ cơ cấu nhằm đạt đến độ minh bạch và hiệu quả đủ để duy trì lợi thế cạnh tranh, họ sẽ tồn tại. Tuy nhiên, khi làm vậy, họ sẽ hoàn toàn chuyển đổi thành những đơn vị quyền lực tinh gọn hơn, hiệu quả hơn, tất cả đều trong môi trường có cấu trúc quyền lực cạnh tranh mới.

 

 

Giống như các cuộc cách mạng công nghiệp trước, luật lệ sẽ đóng vai trò quyết định trong việc áp dụng và phổ biến công nghệ mới. Tuy nhiên, chính phủ sẽ buộc phải thay đổi cách tiếp cận khi thiết lập, sửa đổi và thực thi luật lệ. Trong “thế giới cũ”, giới hoạch định chính sách có đủ thời gian để nghiên cứu một vấn đề cụ thể, sau đó hình thành phản ứng cần thiết hoặc khung khổ pháp lý thích hợp. Toàn bộ quá trình có xu hướng diễn ra tuyến tính và cơ học, theo cách tiếp cận cứng nhắc từ trên xuống. Vì nhiều lý do, cách tiếp cận này không còn khả thi nữa.

Tốc độ thay đổi nhanh chóng mà cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại đang đặt ra thách thức ở cấp độ chưa từng có đối với các nhà quản lý. Bộ máy chính trị, lập pháp và hành pháp ngày nay thường bị chạy theo sự kiện, không thể ứng phó với tốc độ thay đổi công nghệ và tầm vóc ảnh hưởng của nó. Chu kỳ tin tức 24 giờ gây áp lực cho giới lãnh đạo phải đưa ra bình luận hoặc hành động ngay lập tức, giảm thời gian cần có để đưa ra các phản ứng chuẩn mực, đúng nguyên tắc và tính toán kỹ càng. Nguy cơ mất kiểm soát đối với những vấn đề thực sự quan trọng là có thật, đặc biệt là trong hệ thống toàn cầu với gần 200 quốc gia độc lập và hàng nghìn nền văn hóa và ngôn ngữ khác nhau.

Trong điều kiện ấy, giới hoạch định chính sách và quản lý phải làm thế nào để có thể hỗ trợ cho công nghệ phát triển mà không bóp nghẹt đổi mới sáng tạo, trong khi vẫn duy trì được lợi ích của người tiêu dùng và công chúng nói chung? Quản trị linh hoạt chính là giải pháp.

Nhiều tiến bộ về công nghệ mà chúng ta thấy hiện nay không được tính đến một cách hợp lý khi xây dựng khuôn khổ luật lệ hiện hành và có thể phá vỡ khế ước xã hội đã thiết lập giữa chính quyền với công dân. Quản trị linh hoạt tức là nhà quản lý phải tìm ra những cách để thích ứng liên tục với một môi trường mới, thay đổi nhanh chóng bằng cách cải tổ bản thân để hiểu rõ hơn những gì họ đang quản lý. Để làm được điều này, các chính phủ và các cơ quan quản lý cần phải phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp và tổ chức xã hội để định hình quá trình biến đổi trên phạm vi toàn cầu, khu vực và trong từng ngành công nghiệp .

Quản trị linh hoạt không có nghĩa là tạo ra những luật lệ không rõ ràng và thiếu tính ổn định hay buộc giới hoạch định chính sách phải làm việc điên cuồng không ngừng nghỉ. Chúng ta không nên nghĩ sai rằng mình đang kẹt giữa hai khung khổ. pháp lý khó nuốt như nhau – một lỗi thời nhưng ổn định và một hiện đại nhưng bất ổn. Trong kỷ nguyên của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, không nhất thiết phải hoạch định chính sách nhiều hơn hoặc nhanh hơn, mà cần tạo nên một hệ sinh thái quản lý và lập pháp có thể sản sinh những khuôn khổ co dãn hơn. Cách tiếp cận này có thể được củng cố bằng cách tạo ra thêm không gian tĩnh để cân nhắc những quyết định quan trọng. Thách thức là làm sao để quá trình cân nhắc này hiệu quả hơn hẳn hiện tại, và dung hợp được yếu tố dự báo nhằm tối đa hóa không gian cho đổi mới sáng tạo xuất hiện.

Tóm lại, trong một thế giới nơi các chức năng công quyền thiết yếu, truyền thông xã hội và thông tin cá nhân được chuyển sang nền tảng kỹ thuật số, các chính phủ – phối hợp với khu vực doanh nghiệp và tổ chức xã hội – cần tạo ra các quy tắc, cơ chế giám sát và cân bằng quyền lực để duy trì công lý, sức cạnh tranh, sự công bằng, sở hữu trí tuệ bao trùm, an toàn và độ tin cậy.

Có hai triết lý tiếp cận. Thứ nhất, những gì không quy định rõ là bị cấm đều được phép. Thứ hai, những gì không quy định rõ là được phép đều bị cấm. Chính phủ phải dung hòa hai cách tiếp cận này. Họ phải học cách phối hợp và thích nghi, trong khi vẫn bảo đảm con người là trung tâm cho mọi quyết định. Đây chính là thách thức với chính phủ, một thể chế trở nên cần thiết hơn bao giờ hết trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư: chính phủ phải tạo điều kiện để đổi mới sáng tạo phát triển, đồng thời phải giảm thiểu rủi ro.

Để làm được điều này, chính phủ cần gắn bó với người dân hiệu quả hơn và thực hiện những thử nghiệm chính sách theo hướng vừa học vừa thích nghi. Cả hai yêu cầu này đòi hỏi chính phủ lẫn người dân phải nhìn nhận lại vai trò của mình và cách tương tác với nhau, vừa nâng cao kỳ vọng, vừa ghi nhận nhu cầu phải dung nạp nhiều quan điểm, chấp nhận thất bại và sai lầm trong quá trình thực hiện.

 

TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 ĐẾN QUỐC GIA, KHU VỰC VÀ THÀNH PHỐ

 

Vì công nghệ số không có biên giới, nên khi xem xét tác động địa lý của công nghệ và tác động của địa lý lên công nghệ chúng ta sẽ nảy sinh nhiều câu hỏi. Điều gì sẽ xác định vai trò của quốc gia, khu vực và thành phố trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư? Liệu Tây Âu và Mỹ có dẫn đầu quá trình chuyển đổi, như họ đã làm tại các cuộc cách mạng công nghiệp trước? Quốc gia nào có thể Liệu các bên sẽ hợp tác sâu rộng và hiệu quả hơn vì tiến bộ xã hội hay chúng ta sẽ thấy sự phân rã ngày càng lớn không chỉ trong mỗi nước mà còn giữa các quốc gia? Trong một thế giới mà hàng hóa và dịch vụ có thể được tạo ra ở hầu khắp mọi nơi, và phần lớn nhu cầu về công việc giản đơn và lương thấp bị thay thế bằng tự động hóa, phải chăng những nơi có đủ khả năng thực hiện chuyển đổi sẽ chỉ tập trung các quốc gia có thể chế mạnh và chất lượng cuộc sống tốt?

 

Quản lý thúc đẩy sáng tạo

Khi cố gắng giải đáp những câu hỏi này, có một điều rõ ràng và quan trọng: Các quốc gia và khu vực thành công trong việc thiết lập chuẩn mực quốc tế của tương lai trong các lĩnh vực và phương diện chủ chốt của nền kinh tế số mới (thông tin liên lạc 5G, thiết bị bay không người lái thương mại, internet kết nối vạn vật, y tế điện tử, sản xuất áp dụng công nghệ cao, vv . ) sẽ thu được lợi ích kinh tế và tài chính đáng kể. Ngược lại, quốc gia nào thúc đẩy quy tắc và luật lệ riêng nhằm tạo lợi thế cho nhà sản xuất trong nước, đồng thời ngăn chặn đối thủ cạnh tranh nước ngoài và giảm tiền bản quyền mà các công ty trong nước phải trả cho công nghệ nước ngoài sẽ có nguy cơ bị cô lập khỏi hệ quy chuẩn toàn cầu, và tụt hậu trong nền kinh tế số mới.

Như đã đề cập, vấn đề rộng lớn về pháp lý và tuân thủ luật lệ ở cấp độ quốc gia hoặc khu vực sẽ đóng một vai trò quyết định trong việc định hình hệ sinh thái cho hoạt động của các công ty đột phá. Điều này đôi khi dẫn tới xung đột giữa các quốc gia. Một ví dụ điển hình là quyết định tháng 10-2015 của Toà án Công lý châu Âu (ECJ) liên quan đến việc vô hiệu hóa thỏa thuận “lưu trữ an toàn”, có vai trò định hướng dòng dữ liệu cá nhân giữa Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu. Điều này làm tăng chi phí tuân thủ luật pháp của các công ty khi kinh doanh ở châu Âu và đã trở thành vấn đề tranh cãi xuyên Đại Tây Dương.

Ví dụ này nhấn mạnh tầm quan trọng ngày càng tăng của các hệ sinh thái đổi mới với vai trò là động lực chính nâng cao năng lực cạnh tranh. Trong tương lai, sự phân biệt giữa các quốc gia có chi phí cao và thấp, hoặc giữa các thị trường mới nổi và phát triển sẽ ngày càng ít có ý nghĩa hơn. Thay vào đó, câu hỏi chủ chốt với mỗi nền kinh tế là liệu họ có đổi mới sáng tạo được hay không.

Ví dụ, ngày nay các công ty Bắc Mỹ vẫn đứng đầu thế giới về đổi mới sáng tạo theo bất kỳ thước đo nào. Họ thu hút các tài năng hàng đầu, nhận được nhiều bằng sáng chế nhất, sở hữu phần lớn vốn đầu tư mạo hiểm toàn cầu, và được đánh giá cao về giá trị doanh nghiệp khi niêm yết. Điều này càng được củng cố khi Bắc Mỹ vẫn đi tiên phong trong bốn cuộc cách mạng công nghệ tổng hợp: Sản xuất năng lượng trên nền tảng công nghệ sáng tạo, sản xuất kỹ thuật số tiên tiến, các ngành khoa học đời sống, và công nghệ thông tin.

Và trong khi Bắc Mỹ và EU, với một số nền kinh tế sáng tạo nhất, đi đầu trong cách mạng công nghệ, các khu vực khác đang nhanh chóng bắt kịp. Ví dụ, năng lực đổi mới sáng tạo của Trung Quốc được đánh giá đã đạt 49% mức của EU vào năm 2015 (tăng từ mức 35% năm 2006) khi nước này chuyển đổi mô hình kinh tế theo hướng tập trung vào đổi mới sáng tạo và dịch vụ. Tuy xuất phát điểm tương đối thấp, Trung Quốc đã không ngừng gia nhập các phân khúc sản xuất toàn cầu có giá trị gia tăng cao hơn và tận dụng lợi thế quy mô kinh tế để cạnh tranh hiệu quả hơn trên phạm vi toàn cầu.

Nhìn chung, điều này cho thấy, các lựa chọn chính sách rốt cuộc sẽ quyết định việc một quốc gia hay khu vực cụ thể có thể tận dụng được tối đa cơ hội do cách mạng công nghệ tạo ra không.

 

Các khu vực và thành phố giữ vai trò trung tâm đổi mới

Tôi đặc biệt quan ngại về tác động của tự động hóa đối với một số nước và khu vực, đặc biệt là các thị trường tăng trưởng nhanh và các nước đang phát triển, nơi tự động hóa có thể đột ngột làm xói mòn lợi thế cạnh tranh của họ trong sản xuất hàng hóa và dịch vụ sử dụng nhiều lao động. Kịch bản như vậy có thể tàn phá nền kinh tế của một số nước và khu vực đang phát triển.

Rõ ràng không quốc gia hay khu vực nào có thể phát triển nếu các thành phố (hệ sinh thái đổi mới sáng tạo) của họ không được nuôi dưỡng liên tục. Thành thị luôn là động cơ của tăng trưởng kinh tế, thịnh vượng, tiến bộ xã hội trong suốt chiều dài lịch sử, và sẽ là yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh của các quốc gia và khu vực trong tương lai. Ngày nay, hơn một nửa dân số thế giới sống ở độ thị, từ các thành phố trung bình đến các đại đô thị, và con số này vẫn tiếp tục tăng. Nhiều yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của các quốc gia và khu vực đều thuộc phạm vi của các đô thị – từ đổi mới sáng tạo và giáo dục đến kết cấu hạ tầng và hành chính công.

Tốc độ và phạm vi mà các thành phố hấp thụ và triển khai công nghệ, cùng với các khuôn khổ chính sách linh hoạt, sẽ quyết định khả năng cạnh tranh của các thành phố đó trong việc thu hút nhân tài. Sở hữu băng thông rộng siêu nhanh, ứng dụng công nghệ số trong ngành vận tải, tiêu thụ năng lượng, tái chế rác thải… sẽ giúp một thành phố trở nên hiệu quả và đáng sống hơn, và do đó hấp dẫn hơn các nơi khác.

Do đó, điều quan trọng là các thành phố và quốc gia cần tập trung đảm bảo khả năng tiếp cận và sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, vốn là nền tảng căn bản của cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nhưng như Báo cáo Công nghệ thông tin toàn cầu năm 2015 của Diễn đàn cho thấy, điều không may là hạ tầng công nghệ thông tin không chiếm ưu thế và cũng không phát triển nhanh như nhiều người nghĩ. “Một nửa dân số thế giới không có điện thoại di động và 450 triệu người vẫn sống ngoài vùng phủ sóng. Khoảng 90% dân số các nước có thu nhập thấp và trên 60% dân số trên toàn cầu chưa có internet. Cuối cùng, hầu hết các điện thoại di động đều là điện thoại thế hệ cũ”.

Do vậy, chính phủ phải tập trung xóa bỏ khoảng cách công nghệ số ở các nước trong mọi giai đoạn phát triển nhằm bảo đảm các thành phố và quốc gia có kết cấu hạ tầng căn bản để mang lại cơ hội kinh tế và sự thịnh vượng chung qua các mô hình mới về cộng tác, hiệu quả và tinh thần kinh doanh.

Báo cáo của Diễn đàn về Phát triển dựa trên dữ liệu nhấn mạnh, để nắm bắt những cơ hội này, chỉ khả năng tiếp cận hạ tầng số là chưa đủ. Giải quyết vấn đề “thâm hụt dữ liệu” cũng không kém phần quan trọng đối với nhiều nước, đặc biệt là các nước ở Nam bán cầu, do hạn chế trong các khâu xây dựng, thu thập, truyền tải và sử dụng dữ liệu. Xóa bỏ bốn “khoảng cách” gây nên thâm hụt này – lưu trữ, tiếp cận, quản lý và tính khả dụng – sẽ mang lại cho các quốc gia, khu vực và thành phố thêm nhiều năng lực giúp tăng cường phát triển , như theo dõi sự bùng phát của bệnh dịch, ứng phó thiên tai tốt hơn, tạo thuận lợi cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ công và tài chính, và nắm vững tập quán di cư của những nhóm dân dễ bị tổn thương.

 

 

Ngoài thay đổi môi trường quản lý, các quốc gia, khu vực và thành phố còn có thể làm được thêm nhiều điều. Họ có thể tích cực đầu tư để trở thành bệ phóng cho quá trình chuyển đổi kỹ thuật số, qua đó thu hút và khuyến khích doanh nghiệp, nhà đầu tư trong các dự án khởi nghiệp, đồng thời vẫn bảo đảm các doanh nghiệp lâu năm cũng hướng tới cơ hội của cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Khi các công ty mới, năng động và các doanh nghiệp lâu năm kết nối với nhau và với người dân và các trường đại học, thì thành phố vừa trở thành nơi để thử nghiệm, vừa là trung tâm chuyển những ý tưởng mới thành giá trị thực cho nền kinh tế sở tại và toàn cầu.

Theo quỹ hỗ trợ sáng tạo Nesta ở Anh, 5 thành phố có môi trường chính sách hiệu quả nhất thế giới về thúc đẩy đổi mới là New York, London, Helsinki, Barcelona và Amsterdam. Nghiên cứu của Nesta cho thấy các thành phố này đặc biệt thành công trong việc tìm ra phương án sáng tạo để thúc đẩy thay đổi ngoài khuôn khổ môi trường chính sách chính thức, luôn luôn cởi mở, đồng thời hoạt động trên tinh thần doanh nghiệp (hơn là hành chính). Ba tiêu chí này khiến họ trở thành hình mẫu tiêu biểu toàn cầu, hoàn toàn có thể áp dụng cho các thành phố ở các thị trường mới nổi và các nước đang phát triển. Medellín, Colombia, được trao giải thưởng Thành phố của năm vào năm 2013, được công nhận có cách tiếp cận sáng tạo về di chuyển và môi trường bền vững, vượt qua các đối thủ khác là New York và Tel Aviv.

Tháng 10-2015, Hội đồng Nghị sự toàn cầu về tương lại các thành phố của Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố một báo cáo nêu bật trường hợp các thành phố theo đuổi giải pháp sáng tạo để giải quyết nhiều vấn đề. Báo cáo cho thấy tính đặc thù của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang được hình thành nhờ một mạng lưới toàn cầu của các thành phố thông minh, các quốc gia và cụm khu vực (trên nền tảng mạng lưới) am hiểu và tranh thủ được cơ hội của cuộc cách mạng này – từ trên xuống và từ dưới lên – bằng một cách tiếp cận tổng thể và thống nhất.

 

TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 ĐẾN AN NINH QUỐC TẾ

 

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ tác động sâu sắc đến bản chất các mối quan hệ nhà nước và an ninh quốc tế. Tôi đặc biệt quan tâm đến vấn đề này vì tôi nhận thấy trong các chuyển biến quan trọng mà cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại, an ninh là một chủ đề không được thảo luận đầy đủ trong khu vực công, các ngành bên ngoài chính phủ và ngành công nghiệp quốc phòng.

Sự gia tăng bất bình đẳng trong một thế giới siêu kết nối có thể dẫn tới một mối nguy cơ lớn, đó là sự chia rẽ, ly khai và bất ổn xã hội, từ đó làm nảy sinh chủ nghĩa cực đoan bạo lực. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ thay đổi tính chất các mối đe dọa an ninh, đồng thời tác động đến sự dịch chuyển quyền lực đang diễn ra cả về mặt địa lý và từ các chủ thể nhà nước sang phi nhà nước. Đối mặt với tình trạng các chủ thể phi nhà nước có vũ trang tăng lên trong bối cảnh địa chính trị ngày càng phức tạp, triển vọng thiết lập một nền tảng hợp tác chung về các thách thức an ninh quốc tế chính sẽ trở thành một nhiệm vụ thiết yếu, nếu không nói là ngày càng cấp bách.

 

Kết nối, chia rẽ và bất ổn xã hội

Chúng ta sống trong một thế giới siêu kết nối, nơi thông tin, ý tưởng và con người di chuyển nhanh chưa từng thấy. Thế giới mà chúng ta đang Cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ tác động sâu sắc đến bản chất các mối quan hệ nhà nước và an ninh quốc tế. Tôi đặc biệt quan tâm đến vấn đề này vì tôi nhận thấy trong các chuyển biến quan trọng mà cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại, an ninh là một chủ đề không được thảo luận đầy đủ trong khu vực công, các ngành bên ngoài chính phủ và ngành công nghiệp quốc phòng. Sự gia tăng bất bình đẳng trong một thế giới siêu kết nối có thể dẫn tới một mối nguy cơ lớn, đó là sự chia rẽ, ly khai và bất ổn xã hội, từ đó làm nảy sinh chủ nghĩa cực đoan bạo lực. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ thay đổi tính chất các mối đe dọa an ninh, đồng thời tác động đến sự dịch chuyển quyền lực đang diễn ra cả về mặt địa lý và từ các chủ thể nhà nước sang phi nhà nước. Đối mặt với tình trạng các chủ thể phi nhà nước có vũ trang tăng lên trong bối cảnh địa chính trị ngày càng phức tạp, triển vọng thiết lập một nền tảng hợp tác chung về các thách thức an ninh quốc tế chính sẽ trở thành một nhiệm vụ thiết yếu, nếu không nói là ngày càng cấp bách. Kết nối, chia rẽ và bất ổn xã hội Chúng ta sống trong một thế giới siêu kết nối, nơi thông tin, ý tưởng và con người di chuyển nhanh cũng chứng kiến tình trạng bất bình đẳng ngày càng gia tăng, tình trạng này sẽ càng trở nên nghiêm trọng do những thay đổi to lớn trong thị trường lao động mà tôi đã miêu tả ở trên. Tình trạng bị loại trừ khỏi xã hội lan rộng, thách thức trong tìm kiếm lý tưởng sống, hay bất mãn với tầng lớp tinh hoa và cấu trúc xã hội hiện hành (cả trong nhận thức lẫn trên thực tế) đã thúc đẩy các phong trào cực đoan và tạo điều kiện cho họ tuyển mộ lực lượng để đấu tranh bạo lực chống lại hệ thống hiện hành.

Môi trường siêu kết nối không nghiễm nhiên đồng nghĩa với việc con người trở nên bao dung hơn hoặc có khả năng thích nghi cao hơn, như chúng ta chứng kiến qua các phản ứng khi thảm kịch di dân lên đến đỉnh điểm trong lịch sử vào năm 2015. Tuy nhiên, cũng chính môi trường này lại chứa đựng tiềm năng giúp con người đạt được đồng thuận trên cơ sở chấp nhận và hiểu biết hơn về sự khác biệt của nhau, và điều này có thể khiến các cộng đồng xích lại gần nhau chứ không phải là ngược lại. Tuy nhiên, nếu chúng ta không tiếp tục theo đuổi hướng đi này, kịch bản trái ngược tình trạng chia rẽ ngày càng tăng – sẽ xảy ra.

 

Bản chất thay đổi của xung đột

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ ảnh hưởng đến quy mô xung đột cũng như đặc điểm của nó. Sự phân biệt giữa chiến tranh và hoà bình, giữa người lính và dân thường đang nhạt nhòa đi một cách đáng ngại. Tương tự, tính cục bộ lẫn toàn cầu của chiến trường ngày càng gia tăng. Các tổ chức như Daesh, hay ISIS hoạt động chủ yếu tại một số khu vực nhất định ở Trung Đông, nhưng đồng thời tuyển mộ chiến binh từ hơn 100 quốc gia, phần lớn thông qua mạng xã hội, trong khi các cuộc tấn công khủng bố liên quan đến chúng có thể xảy ra tại bất kỳ đầu. Bản chất của xung đột hiện đại ngày càng trở nên lai tạp khi có sự kết hợp giữa các kỹ thuật tác chiến truyền thống và những đặc điểm trước đây chỉ gắn với các đối tượng vũ trang phi nhà nước. Tuy nhiên, với sự hòa trộn ngày càng khó lường của nhiều công nghệ, và sự học hỏi lẫn nhau của các chủ thể nhà nước và phi nhà nước, thì cấp độ nghiêm trọng tiềm tàng của thay đổi này vẫn chưa được đánh giá đầy đủ.

Khi quá trình này diễn ra và việc sở hữu, sử dụng các công nghệ giết người tân tiến trở nên dễ dàng hơn, rõ ràng cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại nhiều phương thức đa dạng cho một cá nhân làm hại người khác trên quy mô lớn. Nhận thức được điều này sẽ làm tăng cảm giác dễ bị tổn thương của chúng ta.

Nhưng không phải tất cả đều ảm đạm. Khả năng tiếp cận công nghệ cũng đem lại khả năng tác chiến chính xác cao hơn, trang bị bảo hộ hiện đại hơn, khả năng in linh kiện, phụ kiện thay thế quan trọng trực tiếp trên chiến trường, và nhiều khả năng khác nữa.

 

Chiến tranh mạng

Chiến tranh mạng là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng nhất của thời đại ngày nay. Không gian mạng đã trở thành một mặt trận như trên bộ , trên biển và trên không trong quá khứ.

Tôi có thể khẳng định rằng, đối với bất kỳ xung đột nào trong tương lai giữa các bên có trình độ tương đối tiên tiến xảy ra trong thế giới thực, gần như chắc chắn nó cũng sẽ chứa đựng yếu tố mạng, vì không đối thủ nào lại chối bỏ cơ hội gây nhiễu hoặc phá hủy hệ thống cảm ứng, thông tin, năng lực ra quyết định của kẻ thù.

Điều này sẽ không chỉ làm cho định nghĩa của một cuộc chiến đơn giản hơn mà còn xóa nhòa sự phân biệt giữa chiến tranh và hoà bình, vì bất cứ mạng lưới hoặc thiết bị kết nối mạng nào, từ hệ thống quân sự đến hạ tầng dân dụng như nguồn năng lượng, lưới điện, hệ thống kiểm soát y tế hoặc giao thông, nguồn nước, đều có thể bị xâm nhập và tấn công. Hệ quả là khái niệm kẻ thù cũng thay đổi. Khác với trước, giờ đây chúng ta không dám chắc ai đang tấn công mình – thậm chí mình có bị tấn công hay không. Các nhà chiến lược quốc phòng, quân sự và an ninh quốc gia trước kia chỉ tập trung nghiên cứu một số quốc gia thù địch truyền thống, giờ đây phải theo dõi cả một thế giới gần như vô hạn và không định hình rõ của tin tặc, khủng bố, tội phạm, giới hoạt động chính trị và những kẻ thù tiềm năng khác. Chiến tranh mạng có thể có nhiều hình thức khác nhau từ hành vi phạm tội và gián điệp đến tấn công phá hoại như Stuxnet – những hình thức chiến tranh bị đánh giá thấp và chưa được hiểu đúng vì quá mới mẻ và khó xử lý.

Từ năm 2008, đã có nhiều trường hợp tấn công mạng nhằm vào các quốc gia lẫn doanh nghiệp cụ thể, tuy nhiên thảo luận về thời đại chiến tranh mới này còn đang ở giai đoạn đầu và khoảng cách đang ngày càng nới rộng giữa các nước đã làm chủ kỹ thuật cao của chiến tranh mạng và các nước còn đang xây dựng chính sách về không gian mạng. Khả năng ra đời một bộ quy tắc chung cho chiến tranh mạng, tương tự như với vũ khí hạt nhân, sinh học và hóa học, vẫn là một câu hỏi mở. Chúng ta thậm chí thiếu một hệ thống phân loại để nhất trí xem mức độ nào được coi là một cuộc tấn công và thế nào là phản ứng thích hợp, với phương tiện gì và do ai thực hiện. Một phần giải pháp cho kịch bản này là xác định dữ liệu nào truyền qua biên giới. Hệ thống này sẽ xác định thế nào là mức độ kiểm soát hiệu quả đối với các giao dịch mạng xuyên biên giới mà lại không ngăn cản những lợi ích đến từ một thế giới kết nối cao hơn.

 

Chiến tranh tự hành

Chiến tranh tự hành, bao gồm việc triển khai robot quân sự và vũ khí tự động có trí tuệ nhân tạo, mang lại viễn cảnh “chiến tranh robot”, điều sẽ làm chuyển đổi tính chất các xung đột tương lai.

Đáy biển và không gian vũ trụ có khả năng dần dần được quân sự hóa, khi ngày càng có nhiều chủ thể – nhà nước và thương mại – có năng lực phóng vệ tinh hay triển khai phương tiện dưới nước không người lái có khả năng gây gián đoạn đường truyền cáp quang hay vệ tinh. Các băng nhóm tội phạm đã sử dụng máy bay trực thăng bốn cánh không người lái có sẵn trên thị trường để theo dõi hoặc tấn công đối thủ. Vũ khí tự hành, có khả năng xác định mục tiêu và khai hỏa mà không cần con người can thiệp, sẽ trở nên khả thi hơn, đặt ra thách thức đối với luật pháp về chiến tranh.

Nhiều công nghệ được mô tả đã tồn tại trong thực tế. Ví dụ: Robot SGR – A1 của Samsung, được trang bị hai súng máy và một súng ngắn bắn đạn cao su , hiện đang phục vụ ở biên giới của Khu phi quân sự liên Triều. Hiện tại, chúng do con người điều khiển, nhưng một khi được lập trình, có thể xác định và tấn công mục tiêu con người một cách độc lập.

Năm ngoái, Bộ Quốc phòng Vương quốc Anh và Công ty BAE Systems thông báo thử nghiệm thành công máy bay tàng hình Taranis, còn được gọi là Raptor. Raptor có thể cất cánh, bay đến một địa điểm định trước và tìm ra mục tiêu với sự can thiệp rất ít từ người điều khiển trừ khi cần thiết. Còn nhiều ví dụ khác tương tự. Chúng sẽ được nhân rộng, và trong quá trình này, sẽ đặt ra nhiều câu hỏi quan trọng ở điểm giao thoa hội tụ của địa chính trị, chiến lược và chiến thuật quân sự, pháp lý và đạo đức.

 

Những đường biên giới mới trong an ninh toàn cầu

Như đã nhấn mạnh nhiều lần trong cuốn sách này, nhận thức của chúng ta vẫn còn hạn chế về tiềm năng to lớn của công nghệ mới và những gì sẽ xảy ra trong tương lai. Đây cũng là điều tương tự trong lĩnh vực an ninh quốc tế và quốc gia. Công nghệ nào cũng có khả năng ứng dụng cho mục đích tốt lẫn xấu. Trong khi công nghệ thần kinh như chỉnh hình thần kinh (neuroprosthetics) hiện đang được sử dụng để giải quyết các vấn đề y học, trong tương lai chúng có thể được áp dụng cho mục đích quân sự. Các hệ thống máy tính gắn với mô não có thể cho phép bệnh nhân bị liệt điều khiển cánh tay hoặc chân robot. Công nghệ tương tự có thể được sử dụng để điều khiển phi công hoặc người lính nửa robot (bionic). Các thiết bị não được thiết kế để điều trị bệnh Alzheimer có thể được cấy ghép vào người lính để xóa bỏ hoặc tạo ra ký ức mới. “Câu hỏi không phải là các chủ thể phi nhà nước có sử dụng kỹ thuật hay công nghệ thần kinh học hay không, mà họ sẽ sử dụng loại nào và bao giờ”, James Giordano, một nhà thần kinh học tại Trung tâm Y tế Đại học Georgetown nhận định “Não bộ con người sẽ là chiến trường của tương lai”.

Tình trạng nhiều công nghệ mới này đang có sẵn và trong một số trường hợp, chưa bị quản lý còn có một tác động quan trọng nữa. Các xu hướng hiện tại báo hiệu việc phổ biến nhanh chóng và rộng rãi các công nghệ mới tạo ra khả năng gây thiệt hại trên quy mô rất lớn, điều trước đây chỉ chính phủ và một số tổ chức rất tinh vi mới có được. Từ vũ khí in bằng công nghệ 3D đến nắn chỉnh gen trong các phòng thí nghiệm tại gia, các phương tiện hủy diệt dựa trên nền tảng công nghệ mới ngày càng dễ sở hữu. Và với sự hòa trộn của công nghệ, một chủ đề chính của cuốn sách này, những biến động khó lường tất yếu sẽ nổi lên, thách thức các khung khổ pháp lý và đạo đức hiện hành. …

 

Hướng tới một thế giới an ninh hơn

Trước những thách thức này, làm sao thuyết phục mọi người nhận thức nghiêm túc về các mối đe dọa an ninh từ công nghệ mới? Điều quan trọng hơn là, liệu chúng ta có thể thúc đẩy hợp tác công – tư trên quy mô toàn cầu để giảm thiểu các mối đe dọa này?

Trong nửa cuối thế kỷ trước, nỗi sợ hãi chiến tranh hạt nhân dân nhường chỗ cho sự ổn định cương đối dựa trên học thuyết chắc chắn cùng diệt vong (MAD) và chiến tranh hạt nhân có vẻ đã trở thành điều cấm kỵ.

Sở dĩ MAD phát huy vai trò đến nay là vì chỉ có một số ít thực thể sở hữu sức mạnh tiêu diệt hoàn toàn đối thủ, và họ trở thành đối trọng cân bằng lẫn nhau. Tuy nhiên, việc nảy sinh nhiều thực thể có tiềm năng hủy diệt mới có khả năng làm suy yếu cục diện cân bằng ấy, đó là lý do khiến các quốc gia hạt nhân đồng ý hợp tác để không mở rộng câu lạc bộ hạt nhân, đàm phán Hiệp ước về Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) vào cuối những năm 1960.

Trong khi bất đồng về hầu hết các vấn đề khác, Liên Xô và Mỹ hiểu rằng biện pháp tự vệ tốt nhất là duy trì tính dễ tổn thương của đối phương. Điều này dẫn đến Hiệp ước Chống tên lửa đạn đạo (ABMT), cơ bản hạn chế quyền phòng thủ với tên lửa gắn đầu đạn hạt nhân. Khi năng lực huỷ diệt không còn là độc quyền của số ít thực thể với nguồn lực tương đương nhau, yếu tố chiến thuật và lợi ích trong các 10 học thuyết ngăn ngừa leo thang hạt nhân như MAD OM OS LOS không còn nhiều ý nghĩa.

Dưới sự tác động của những thay đổi mà cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại, liệu chúng ta có thể tìm thấy sự cân bằng mới để biến tính dễ tổn thương thành ổn định và an ninh theo cách tương tự trước đây hay không? Các bên khác biệt về quan điểm và lợi ích cần tìm ra một phương thức tạm hòa hoãn (modus vivendi) và hợp tác để tránh căng thẳng leo thang.

Các bên liên quan phải hợp tác để tạo ra khuôn khổ ràng buộc pháp lý cũng như các thông lệ ngang hàng, các chuẩn mực đạo đức và cơ chế tự đề ra để kiểm soát sự phát triển của các công nghệ tiềm tàng nguy hiểm, và tốt nhất là không cản trở năng lực nghiên cứu để mang lại đổi mới sáng tạo và tăng trưởng kinh tế.

Chắc chắn các điều ước quốc tế là cần thiết, nhưng tôi lo ngại rằng các nhà quản lý trong lĩnh vực này sẽ thấy mình đi sau những tiến bộ về công nghệ vì chúng phát triển quá nhanh và có tác động pues son nhiều mặt. Do đó, giới xây dựng luật lệ và giới phát triển công nghệ cần ngồi lại thảo luận về chuẩn mực đạo đức cần áp dụng cho các công nghệ mới để thiết lập các nguyên tắc đạo đức chung và lồng ghép. chúng với xã hội và văn hóa. Với việc chính phủ và các thiết chế trên nền tảng chính phủ đang bị tụt hậu trong không gian quản lý, nhiều khả năng trách nhiệm dẫn dắt sẽ thuộc về khu vực tư nhân và các chủ thể phi nhà nước.

Sự phát triển của các công nghệ chiến tranh mới diễn ra trong một phương diện tương đối biệt lập, và đây là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, điều tôi quan ngại là các lĩnh vực khác như dược phẩm dựa trên công nghệ gen và các nghiên cứu liên quan cũng có thể thu hẹp lại thành các lĩnh vực biệt lập, mang tính chuyên biệt cao, làm giảm đi năng lực tập thể của chúng ta trong việc thảo luận, tìm hiểu và ứng phó với các thách thức và cơ hội.

 

 

*Theo: Klaus Schwab (2018), Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội
 
————
 
Theo dõi Fanpage Viện Năng suất Việt Nam chi nhánh Hồ Chí Minh để cập nhật những bài viết mới nhất: https://www.facebook.com/vnpihcm
 

TÀI LIỆU KHÁC